(91) 350-9520 support@omarine.org M-F: 7 AM - 7 PM; Weekends: 9 AM - 5 PM

Chính sách tài khóa và tiền tệ- những điểm khác biệt thực tế trong mô hình IS-LM

Trong mô hình IS-LM (*) khi sản lượng tăng lên thì lãi suất tăng. Song điều này chỉ có thể áp dụng trong điều kiện ổn định giá cả. Khi đó mức cung tiền là mức cung tiền thực tế. Vậy mức cung tiền thực tế là gì.

Lượng tiền cung ứng trong một năm là MS.V= P.Q= GDP   => MS= GDP / V= P.Q / V

(MS- mức cung tiền; V- tốc độ lưu thông tiền tệ; P- Mức giá trung bình; Q- Sản lượng thực tế theo số lượng)

Mức cung tiền danh nghĩa MSn = GDPn / V= P.Q / V   (GDPn – GDP danh nghĩa)  (1)

Mức cung tiền thực tế MSr = GDPr / V= P*.Q / V  (GDPr – GDP thực tế; P*- mức giá gốc trung bình)     (2)

Từ (1) và (2) suy ra MSr = (MSn.P*) / P , đây là hàm của Mức cung tiền thực tế theo Mức giá

Dưới đây là ví dụ về một trường hợp đặc biệt, khi sản lượng tăng mà lãi suất không đổi (**)

Do cải thiện yếu tố sản xuất, đường tổng cung AS0 dịch chuyển sang phải đến đường tổng cung AS1 (hình 1), điểm cân bằng cung cầu E10 với mức giá P0 trở thành điểm E11 với mức giá P1 < P0. Ở hình 2, các mức cung tiền thực tế tương ứng là M0 và M1, ứng với các lãi suất là i0 và i1 trong hình 3. Với sản lượng ban đầu Y0, nền kinh tế cân bằng thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ tại điểm E40 (hình 4). Khi sản lượng tăng lên tới Y1, đường IS0 dịch chuyển sang phải tới IS1. Do mức cung tiền thực tế tăng từ M0 tới M1 nên lãi xuất giảm từ i0 xuống i1, đường LM0 dịch chuyển xuống dưới một đoạn bằng i0 – i1, trở thành đường LM1, cắt IS1 tại E41 là điểm cân bằng mới với sản lượng Y1, lãi suất không đổi so với lãi suất ban đầu i0.

Như vậy, giá cả có ảnh hưởng đến mức cung tiền thực tế, giá cả giảm thì mức cung tiền thực tế tăng, giá cả tăng thì mức cung tiền thực tế giảm.

Từ đây có thể đi đến kết luận:

       Mô hình IS-LM chỉ có thể áp dụng trực tiếp trong thời kỳ giá cả ổn định.

       Khi sản lượng tăng mà giá cả giảm xuống thì lãi suất thực tế tăng ít hơn, thậm chí không đổi do mức cung tiền thực tế tăng lên.

       Trong thời kỳ lạm phát, sự tăng trưởng (nếu không có biện pháp giải quyết) sẽ dẫn đến lãi suất tăng cộng thêm do mức cung tiền thực tế giảm xuống. Lãi suất danh nghĩa mới= lãi suất thực tế cũ+ tỉ lệ lạm phát+ mức gia tăng lãi suất do tăng sản lượng+ mức gia tăng lãi suất do lạm phát. Có thể gọi là lãi suất phi mã vì nó không tăng lên đều đặn mà tăng lên theo gia tốc.

       Đánh giá thị trường dựa trên các mô hình phân tích phải căn cứ vào các đại lượng thực tế. Mọi đánh giá dựa vào các đại lượng danh nghĩa hoặc các giá trị không đúng với thực trạng đều đem lại kết quả méo mó hoặc phản tác dụng.

       Công thức MSr.V = GDPr  cho thấy có thể xem kinh tế tăng trưởng hay không dựa vào xem xét mức cung tiền thực tế có tăng lên hay không.

 

(*)Mô hình IS-LM phân tích tác động của chính sách tài khóa- tiền tệ với sự cân bằng của thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ

Đường IS là tập hợp các điểm cân bằng thị trường hàng hóa ứng với mỗi tổ hợp lãi suất- sản lượng (hay thu nhập) khác nhau

Đường LM là tập hợp các điểm cân bằng thị trường tiền tệ ứng với mỗi tổ hợp lãi suất- sản lượng khác nhau

Giả sử nền kinh tế cân bằng thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ tại điểm E0 với lãi suất i0. Khi tăng chi tiêu hay giảm thuế, tổng cầu tăng làm sản lượng tăng lên, đường IS0 dịch chuyển đến đường IS1. Điểm cân bằng mới tại E1 với lãi suất i1 > i0.

(**)Lãi suất ở đây là lãi suất thực tế

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: