(91) 350-9520 support@omarine.org M-F: 7 AM - 7 PM; Weekends: 9 AM - 5 PM

Điều 4 Hiến pháp và Luật phá sản

Capt. Phạm Thành Tuyên

Điều 4 Hiến pháp 1992 quy định ĐCSVN  là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động

Điều 4

Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Điều đó có nghĩa là mọi bộ luật và văn bản dưới luật đều phải phù hợp với đường lối của lực lượng lãnh đạo này, trong đó phải trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Chúng ta hãy xem xét các điều 35, 36, 37 của Luật phá sản 2004:

Điều 35. Xử lý các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố

Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được ưu tiên thanh toán bằng tài sản đó; nếu giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; nếu giá trị của tài sản thế chấp hoặc cầm cố lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Điều 36. Hoàn trả lại tài sản cho Nhà nước

Doanh nghiệp đã được Nhà nước áp dụng biện pháp đặc biệt về tài sản để phục hồi hoạt động kinh doanh, nhưng vẫn không phục hồi được mà phải áp dụng thủ tục thanh lý thì phải hoàn trả lại giá trị tài sản đã được áp dụng biện pháp đặc biệt cho Nhà nước trước khi thực hiện việc phân chia tài sản theo quy định tại Điều 37 của Luật này.

Điều 37. Thứ tự phân chia tài sản

1. Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì việc phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã theo thứ tự sau đây:

a) Phí phá sản;

b) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;

c) Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng.

2. Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán đủ các khoản quy định tại khoản 1 Điều này mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về:

a) Xã viên hợp tác xã;

b) Chủ doanh nghiệp tư nhân;

c) Các thành viên của công ty; các cổ đông của công ty cổ phần;

d) Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước.

3. Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì việc thanh toán được thực hiện theo thứ tự quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

Khi doanh nghiệp phá sản, theo điều 35 thì các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được ưu tiên thanh toán trước tiên. Nếu sau khi thực hiện nghĩa vụ tại điều này mà doanh nghiệp không còn tài sản thì đương nhiên “Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội” tại điểm b, khoản 1, điều 37 sẽ không có ý nghĩa, và người lao động trắng tay. Điều 35 còn dung túng cho hiện tượng vay nợ bừa bãi vì chủ nợ đã vững tin vào tài sản thế chấp để cho vay mà không cần quan tâm tới sức khỏe doanh nghiệp. Doanh nghiệp tồn tại và chứa đựng những vấn đề xã hội những thực ra đã “chết”.

Với điều 36, những doanh nghiệp đã được Nhà nước áp dụng biện pháp “đặc biệt” về tài sản mà vẫn chết, và nếu tài sản còn lại của doanh nghiệp lúc này không đủ trả lại giá trị tài sản “đã được áp dụng biện pháp đặc biệt” cho Nhà nước, thì người lao động cũng trắng tay giống như phân tích ở trên. Mặc dù về nguyên tắc Nhà nước là Nhà nước của nhân dân, nhưng giữa quyền lợi trực tiếp của nhân dân lao động và quyền lợi của cơ quan đại diện của họ thì cái nào quan trọng hơn. Nếu đảo lộn thứ tự quyền lợi trực tiếp của nhân dân lao động như vậy thì cơ quan đại diện của họ là Nhà nước phấn đấu vì mục tiêu gì. Nhà nước là của nhân dân tức nhân dân là chủ của Nhà nước. Có ông chủ nào muốn có một đày tớ không coi trọng quyền lợi trực tiếp của mình? Và khi chúng ta còn đang lý luận ở đây thì những người dân lao động trong trường hợp này lấy gì để ăn?

Những cơ sở lập luận trên không phải do tôi  nghĩ ra, tất cả là xuất phát từ những vấn đề được biết về quyền con người, tính nhân văn trong một xã hội văn minh phấn đấu cho một mục tiêu hài hòa, thể hiện qua các quy định quốc tế về mối quan hệ lợi ích, của các Công ước quốc tế, các cơ quan Quốc hội, các Ủy ban luật quốc tế, Tổ chức thương mại quốc tế,  Tổ chức lao động quốc tế ILO….

Mời quý vị tham khảo một số nội dung trong bộ Luật Hàng Hải VN 2005, như tôi đã từng nói, một bộ luật chịu ảnh hưởng và dựa trên các điều ước quốc tế.

Điều 36, khoản 2

“Các khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền cầm giữ hàng hải quy định tại Điều 37 của Bộ luật này có thứ tự ưu tiên cao hơn các khiếu nại hàng hải được bảo đảm bằng thế chấp tàu biển và các giao dịch bảo đảm khác.”

Điều 36, khoản 4

“Người có khiếu nại hàng hải có quyền cầm giữ hàng hải đối với tàu biển để bảo đảm cho các khiếu nại hàng hải quy định tại Điều 37 của Bộ luật này, mặc dù tàu biển đó đã được thế chấp hoặc chủ tàu đã thực hiện các giao dịch bảo đảm khác để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác trên cơ sở hợp đồng.”

Điều 37. Khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền cầm giữ hàng hải

1. Khiếu nại hàng hải về tiền lương, chi phí hồi hương, chi phí đóng góp bảo hiểm xã hội và các khoản tiền khác phải trả cho thuyền trưởng, sĩ quan và các thuyền viên khác trong thuyền bộ của tàu biển.

2. Khiếu nại hàng hải về tiền bồi thường tính mạng, thương tích và tổn hại khác về sức khoẻ con người liên quan trực tiếp đến hoạt động của tàu biển.

3. Khiếu nại hàng hải về phí trọng tải, phí bảo đảm hàng hải, phí hoa tiêu, phí cầu cảng và về các loại phí, lệ phí cảng biển khác.

4. Khiếu nại hàng hải về tiền công cứu hộ tàu biển.

5. Khiếu nại hàng hải về tổn thất và thiệt hại tài sản ngoài hợp đồng liên quan trực tiếp đến hoạt động của tàu biển.

Điều 38, khoản 1

“Các khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền cầm giữ hàng hải được ưu tiên giải quyết theo thứ tự các khiếu nại quy định tại Điều 37 của Bộ luật này; trường hợp khiếu nại hàng hải về tiền công cứu hộ tàu biển phát sinh sau thời điểm các khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền cầm giữ hàng hải khác thì xếp ưu tiên cao hơn các khiếu nại hàng hải đó.”

Chúng ta thấy rằng khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền cầm giữ hàng hải tại điều 37, khoản 1 về tiền lương… của người lao động được ưu tiên giải quyết cao nhất. (*)

Như vậy chúng ta đã thông suốt rằng Luật phá sản 2004 không trung thành quyền lợi của nhân dân lao động, và vi phạm điều 4 Hiến pháp 1992!

(*)Trừ trường hợp có khiếu nại hàng hải về tiền công cứu hộ tàu biển phát sinh sau khiếu nại về tiền lương. Quy định này nhằm khuyến khích cứu hộ. Về logic, nếu một con tàu không được cứu hộ và bị chìm đắm thì mọi quyền cầm giữ đối với nó là vô nghĩa. Mặc dù vậy, người lao động vẫn có thể có quyền cầm giữ hàng hải đối với tàu khác cùng chủ.

Advertisements

Gửi phản hồi

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.

%d bloggers like this: