(91) 350-9520 support@omarine.org M-F: 7 AM - 7 PM; Weekends: 9 AM - 5 PM

Những khuyết điểm của học thuyết Mác- phần 3

Hai bài trước nói về những khuyết điểm của học thuyết Mác. Học thuyết là kim chỉ nam cho đường lối phát triển đất nước theo con đường CNXH, đã được chỉ ra là mắc phải khiếm khuyết khiến cho con đường CNXH trở nên mờ mịt. Hai bài đã trình bày các hệ lụy mà học thuyết gây ra theo lối diễn tả hiện thực phê phán. Bài này đi vào mâu thuẫn cơ bản của nguyên lý nội tại.

Học thuyết tìm tòi các qui luật phát triển, sáng tỏ vấn đề. Điều này chống lại các luận điểm lòe bịp hay mê tín dị đoan, giải thoát con người khỏi nỗi sự hãi về các thế lực thần bí, vô hình. Như vậy xương sống của học thuyết là tính thực tế.

Oái ăm thay, học thuyết càng có vẻ thực tế bao nhiêu thì đến khi ứng dụng nó càng phi thực tế bấy nhiêu. Điểm chốt ở đây là đối tượng chịu tác động ứng dụng của học thuyết không phải là vài ba người có bộ óc hàn lâm trong phòng thí nghiệm, mà là toàn thể xã hội với đầy đủ các thành phần trong một thế giới biến đổi không ngừng. Trong trường hợp này, lý thuyết càng chi tiết, sai lầm càng lớn, bởi chi tiết xã hội không phải là đối tượng của khoa học, trong khi các nhà nghiên cứu chưa có thực tiễn về mọi ngóc ngách của đời sống xã hội. Thế giới luôn vận động, cân bằng là tạm thời, mất cân bằng là vĩnh viễn. Việc cố gắng nắm bắt hết thảy, cũng như cố chớp lấy trạng thái cân bằng là vô cùng khó khăn, nếu được cũng chỉ là tạm thời trong khi chân lý đã thuộc về quá khứ. Thêm nữa, quán tính suy luận luôn có xu hướng đẩy vấn đề vượt quá dung sai, mà khả năng có thể dừng lại trong biên độ cho phép của chân lý là vượt quá kiến thức trung bình của xã hội. Cho thấy, tính phi thực tế thể hiện rất rõ ràng.

Thế giới vạn vật là hệ thống mở, nó không chấp nhận sự cài đặt sẵn như mảng logic cố định (Unprogramable logic array). Thời đại này là thời đại của thông tin. Khuynh hướng nghiên cứu qui luật hóa không còn hữu dụng, hay nói chính xác hơn nó đã bão hòa. Các phương pháp tìm kiếm thông tin cổ điển như tìm kiếm theo chiều rộng, tìm kiếm theo chiều sâu, tìm kiếm sâu dần mức k, kể cả tìm kiếm kết hợp định hướng kinh nghiệm Heuristics đều không giải quyết được các bài toán lớn. Khi số cấu hình bài toán lên tới con số hàng tỉ thì giải pháp khả thi lại là nhờ cậy đến các vấn đề tự nhiên như quy lạp, mạng neuron, giải thuật di truyền(*). Các phương pháp cổ điển, trong khi, tìm kiếm dựa trên tri thức đã biết (là các chân lý đã thuộc về quá khứ) sẽ chỉ (nếu có- đối với các bài toán có tính giải được) cho ra kết quả với cấp độ tri thức thấp hơn. Ngược lại, các phương pháp mới là các phương pháp tổng hợp tri thức, đem lại tri thức với cấp độ cao hơn tri thức nguồn, trong mọi trường hợp luôn cho kết quả tối ưu. Vấn đề xã hội là vấn đề rất lớn và phức tạp. Sự áp đặt chủ quan dù tích cực hay tiêu cực không phải là hướng đi của thời đại, không hiệu quả, trong một số trường hợp là không giải được. Chính quá trình sàng lọc tự nhiên là cách lựa chọn cho giải pháp giải vấn đề đạt kết quả tối ưu.

Như vậy học thuyết Mác mâu thuẫn giữa ước muốn và tính ứng dụng của nó, dẫn tới con đường CNXH bất khả thi. Mặc dù CNXH thực tế chẳng còn nguyên vẹn, nhưng những vương vấn nửa vời chỉ thêm nuôi dưỡng tham ô, tạo ra bất ổn xã hội, hao tiền tốn của, đình đốn sản xuất, làm cho đất nước càng thêm nguy khốn trước sóng gió của hội nhập toàn cầu.

(*)Thuật giải di truyền là một thuật giải trong đó duy trì n cá thể trong một quần thể. Sau khi quần thể sản sinh ra thế hệ mới, kích thước quần thể tăng lên, độ thích nghi được đánh giá toàn bộ các cá thể, loại bỏ các cá thể có độ thích nghi thấp để giữ lại chỉ n cá thể thích nghi cao nhất (có thể bao gồm các cá thể ở mọi thế hệ). Quần thể lại tiếp tục sản sinh…cho đến khi độ thích nghi thỏa mãn yêu cầu. Chu kỳ sống  của mỗi thế hệ càng ngắn, tức là quần thể sản sinh càng nhanh thì tốc độ tìm kiếm càng đạt hiệu quả.

 

Advertisements

Gửi phản hồi

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: